Nguyễn Trung Kiên: Nguyên lý đồng dạng và các đặc trưng trong chọn, kết bạn. Tiếp cận lí thuyết cơ sở về sinh viên

23/02/2010

Xahoihoc.info: Người ta thường tìm kiếm và lựa chọn kết bạn với những người như thế nào? Câu hỏi này hoàn toàn có thể được lí giải khoa học dưới góc độ NGUYÊN LÝ ĐỒNG DẠNG (principle of homophily) trong phân tích mạng lưới xã hội. Đồng dạng là một nguyên lý cho rằng sự giao tiếp giữa các cá nhân giống nhau xảy ra với tỉ lệ cao hơn so với giao tiếp giữa các cá nhân khác nhau . Các cá nhân thường tìm kiếm, lựa chọn và kết bạn với những người giống với họ, có thể là về giới, giới tính, về tuổi tác, về địa vị xã hội, về tầng lớp, về đặc điểm hành vi cá nhân, về niềm tin, lý tưởng.v.v


ĐẶT VẤN ĐỀ


Người ta thường tìm kiếm và lựa chọn kết bạn với những người như thế nào? Câu hỏi này hoàn toàn có thể được lí giải khoa học dưới góc độ NGUYÊN LÝ ĐỒNG DẠNG (principle of homophily) trong phân tích mạng lưới xã hội. Đồng dạng là một nguyên lý cho rằng sự giao tiếp giữa các cá nhân giống nhau xảy ra với tỉ lệ cao hơn so với giao tiếp giữa các cá nhân khác nhau[1]. Các cá nhân thường tìm kiếm, lựa chọn và kết bạn với những người giống với họ, có thể là về giới, giới tính, về tuổi tác, về địa vị xã hội, về tầng lớp, về đặc điểm hành vi cá nhân, về niềm tin, lý tưởng.v.v. Các nghiên cứu về đồng dạng rất phổ biến ở nước ngoài, tuy vậy, ở Việt Nam, các nghiên cứu về mạng lưới xã hội nói chung còn rất ít ỏi, đặc biệt các nghiên cứu về tính đồng dạng hầu như chưa có.


Việc ứng dụng nghiên cứu tính đồng dạng vào một lĩnh vực cụ thể của quan hệ xã hội ở Việt Nam là cần thiết và quan trọng. Trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn khách thể nghiên cứu là các sinh viên thuộc hai năm cuối ở trường Đại học.[2] Bởi vì sinh viên là những người đang trong thời kỳ trưởng thành về mặt nhân cách nên phương thức kết bạn của họ rất đặc trưng. Mặt khác, sinh viên được lựa chọn là những người trải qua quá trình di động xã hội từ các vùng quê lên thành phố lớn, do đó họ phải xây dựng lại mạng lưới cá nhân (ego network) ở nơi sống và học tập. Dưới góc độ lí thuyết mạng lưới, tôi cho rằng nhu cầu này đã thúc đẩy sinh viên tận dụng ngay các đặc điểm dựa trên sự tương đồng để nhanh chóng kết bạn mới. Vậy, nguyên lý đồng dạng biểu hiện như thế nào trong phương thức lựa chọn và kết bạn của sinh viên? Mục đích của nghiên cứu áp dụng tiếp cận lý thuyết cơ sở (grounded theory) này là thăm dò những đặc trưng mô hình trong hiện tượng chọn và kết bạn trong sinh viên. Những phát hiện về mặt lý thuyết sẽ được dùng để kiểm chứng trong các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.

Nghiên cứu này tiến hành xử lý định tính trên cơ sở dữ liệu là 17 phỏng vấn bán cấu trúc đối với sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn từ cuộc khảo sát hiện tại và 33 phỏng vấn bán cấu trúc đối với các cá nhân trong mạng lưới cá nhân sinh viên từ một số trường Đại học trên địa bàn Hà Nội, được phép sử dụng từ nghiên cứu Nguyễn Trung Kiên và cộng sự (2009).


[1] Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin và James M.Cook (2001). “Birds of a Feather: Homophily in Social Networks”, Annual Review Sociology, No.27: pp. 416

[2] Các sinh viên hai năm cuối thường là những người đã hình thành về cơ bản mạng lưới cá nhân của mình ở Đại học, do đó họ là khách thể phù hợp với chiến lược khảo sát định tính về các trải nghiệm trong chọn, kết bạn suốt thời gian của họ ở Đại học.

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐỒNG DẠNG

Các nghiên cứu về đồng dạng ở nước ngoài rất phong phú. Miller McPherson và cộng sự (1987) cho rằng đồng dạng được phát hiện trong tất cả các nhóm tuổi từ học sinh (Billy & cs, 1984; Gerard & cs, 1975; Kandel 1978.v.v) tới những người cao tuổi (Nahamow & cs, 1975; Riley & cs, 1968; Rosow, 1967). Nó cũng xảy ra trong nhiều chiều cạnh, gồm các đặc trưng nhân khẩu học xã hội cơ bản (basic sociodemographic characteristics) như tuổi, giới tính (Lazarsfeld & Merton, 1954; Tuma & cs, 1977; Verbrugge 1977, 1979); các đặc điểm đạt được như giáo dục, uy tín, và tầng lớp xã hội (Barnes, 1954; Coleman, 1957; Curtis, 1963); các đặc trưng cá nhân như thái độ và niềm tin (Aje và Fishbein, 1980; Berscheid, 1985), khát vọng (Cohen, 1977, 1983) và các hành vi xã hội (Billy và cs, 1984; Berkum & cs, 1958).[1]

Để xem xét các đặc tính của đồng dạng, các nhà nghiên cứu phân loại nó theo nhiều cách khác nhau. Theo Lazarsfeld và Merton (1954; cũng xem McPherson và cs, 2001; Elihu Katz và cs, 2005; Anthony Lyons và cs, 2007) đã phân biệt hai kiểu đồng dạng: đồng dạng vị thế (status homophily) là sự hấp dẫn lẫn nhau dựa trên sự tương đồng về các vị thế phi chính thức, chính thức hay các vị thế gán cho và đồng dạng giá trị (value homophily) là sự hấp dẫn lẫn nhau dựa trên sự chia sẻ các giá trị, thái độ và niềm tin.[2] Phân loại của M.McPherson và cộng sự (1987) lại dựa trên nguồn gốc của chúng thành đồng dạng gán cho (induced homophily) bắt nguồn từ cấu tạo nhóm và đồng dạng lựa chọn (choiced homophily) xuất phát từ sở thích của cá nhân.[3] M.McPherson và cộng sự (2001) phân chia đồng dạng thành 2 loại: đồng dạng nền tảng (baseline homophily) dựa vào liên kết tiềm tàng của các đặc trưng nhân khẩu học và đồng dạng khác biệt hay đồng dạng khoảng (inbreeding homophily hay social distance (khoảng cách xã hội) (xem Marden, 1988) được đo lường một cách rõ ràng dựa trên các cơ hội.[4]

Các nghiên cứu thực nghiệm tìm cách áp dụng quan điểm đồng dạng vào các lĩnh vực cụ thể. Lin và cộng sự (1981) cho rằng các liên kết yếu có ảnh hưởng tích cực lên vị thế nghề nghiệp chỉ khi các cá nhân tìm cách kết nối với các cá nhân vị thế cao (high-status).[5] Portney và Berry (1997) cho rằng “không phải tất cả kiểu loại mạng lưới ủng hộ suy nghĩ của cộng đồng. Các mạng lưới đồng nhất tạo được đồng thuận hơn là một cái không đồng nhất”. Sampson và đồng sự (1997) cũng cho rằng: “Các hàng xóm đồng nhất hơn có cấp độ cao hơn về hiệu quả tập thể” (Xem Anirudh Krishna (2002)[6].

Trong nước, các nghiên cứu về mạng lưới xã hội và đặc biệt là về tính đồng dạng hầu như là chưa có. Điểm qua các nghiên cứu về mạng lưới xã hội có Đặng Nguyên Anh (1998), Lê Ngọc Hùng (2003, 2008), Lê Minh Tiến (2006), Nguyễn Quý Thanh (2005, 2006, 2008), Nguyễn Duy Thắng (2007), I.Pannier (2008), Hoàng Bá Thịnh (2009). Chỉ có nghiên cứu của Đặng Nguyên Anh (1998) có đề cập tới quan điểm đồng dạng khi bàn tới quá trình di cư của những người đồng hương. Nghiên cứu cho rằng: “Người di cư hiện nay có xu hướng quần tự ở những nơi có nhiều người cùng quê hương bản quán đến làm ăn sinh sống”.[7]

Tóm lại, trái ngược với sự phong phú, đa dạng của các tài liệu nước ngoài, ở Việt Nam các nghiên cứu về chủ đề đồng dạng còn ít, đặc biệt là các nghiên cứu mang tính thực nghiệm tiếp cận từ quan điểm đồng dạng vào các lĩnh vực cụ thể của quan hệ xã hội. Điều này cho thấy, lĩnh vực quan hệ xã hội ở nước ta rất cần có các nghiên cứu về đồng dạng. Đó cũng là động lực thúc đẩy tôi thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về đề tài tính đồng dạng trong chọn và kết bạn của sinh viên.


[1] Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin. (1987). “Homophily in Voluntary Organizations: Status Distance and the Composition of Face-to-Face Groups”, American Sociological Review, Vol.52, No.3: pp. 370

[2] Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin và James M.Cook (2001). Cited, pp. 419. Cũng xem Elihu Katz, Paul Felix Lazarsfeld. (2005). Personal Imfluence. The part played people in the flow of mass Communication, Transaction Publishers: pp.59; Cũng xem Anthony Lyons, Anna Clark, Yoshihisa Kashima and Tim Kurz (2007). Cultural dynamics of Stereotypes: Social Network Processes and the Perpetuation of Stereotypes trong Yoshihisa Kashima, Klaus Fiedler, Peter Freytag. (2007). Stereotype dynamics: language-based approaches to the formation, maintenance, and transformation of stereotypes, CRC Press: pp. 72.

[3] J.Miller McPherson and Lynn Smith-Lovin (1987). Cited: pp. 371

[4] Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin và James M.Cook, (2001). Cited: pp. 418-419.

[5] Xem M.Granovetter (1983). “The Strength of Weak Ties: A Network theory revisited”, Sociology Theory, Vol.1: pp. 209

[6] Anirudh Krishna (2002). Active social capital: tracing the roots of development and democracy, Columbia University Press: pp.59-60

[7] Đặng Nguyên Anh 1998. “Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư”, Tạp chí Xã hội học, Số 2 (62): tr 17-18



NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Kết quả của nghiên cứu này tập trung vào đặc trưng mô hình mang tính đồng dạng trong phương thức chọn và kết bạn của sinh viên gồm đồng hương và đồng dạng theo nhóm.

Đồng hương

Đồng hương là những người cùng quê hương, một đặc điểm, một chiều cạnh đồng dạng mang tính gán cho.



Khảo sát cho thấy lí do chọn người đồng hương làm bạn là “vì cùng quê dễ nói chuyện hơn, hiểu biết về phong tục quê mình hơn, cách ứng xử không cần phải khéo léo” (PV 2.3.1[1], Nữ, 22 tuổi) hay “người đồng hương thấy gần gũi hơn” (PV 1.1.1, Nam, 23 tuổi). Đồng hương không những là một tiêu chí để kết bạn, mà còn là tiêu chí kết bạn thân: “ai cũng được, nhưng nếu chọn bạn thân thì thích người đồng hương hơn” (PV 2.2.4, Nữ, 22 tuổi).

Tuy nhiên, không phải đồng hương đứng một mình để tạo ra gắn kết quan hệ. Nó luôn là cơ sở và là yếu tố kết hợp với các yếu tố khác để tạo ra sức mạnh liên kết.

Đồng cảnh ngộ

Về mặt lí thuyết, có thể gọi hoàn cảnh mà các sinh viên xa nhà gặp phải là một sự đồng dạng về mặt vị thế trong mạng lưới. Bởi vì, họ đều phải xa gia đình, xa quê hương và tự lập ở một môi trường mới với nỗi nhớ nhà, thiếu thốn sự quan tâm, tình cảm chăm sóc của gia đình, gặp khó khăn về tài chính, chỗ trọ, hòa nhập môi trường sống mới. Và cảnh ngộ đó thường là cơ sở để các sinh viên lựa chọn đồng hương : « Mình học với V.A từ hồi cấp 3, nhưng nói chung là hai thằng chỉ chơi ở mức bình thường thôi...Lên đây (Hà Nội) mấy thằng cùng lớp cấp 3 rủ nhau thuê nhà trọ ở cùng nhau lâu ngày thành thân. » (PV 1.2.1, Nam, 23 tuổi).

Cùng trọ

Trọ cùng dẫn tới sự phụ thuộc nhiều hơn vào nhau, tới trách nhiệm san sẻ các vấn đề trong sinh hoạt và dẫn đến rất nhiều thứ chung đụng, ví như ăn, ngủ, nghỉ…Đó là những việc luôn đòi hỏi sự phù hợp, sự tin tưởng và cả chịu đựng lẫn nhau giữa những người bạn. Và một lần nữa, đồng hương là yếu tố quan trọng để sinh viên lựa chọn. “Trọ cùng với người đồng hương tốt hơn, vì dễ hiểu được phong cách ở quê hơn, dễ chơi hơn, nếu trong quan hệ có gì sai sót còn có thể khắc phục được. » (PV 2.2, 22 tuổi). Cảm giác khi lên Đại học cần sự tin tưởng cao hơn nên dù sao người đồng hương vẫn tốt hơn. » (PV 2.4, nữ, 23 tuổi).

Hội đồng hương

Hiện tượng chọn và kết bạn không chỉ diễn ra theo các cặp đôi, cặp ba mang tính cá nhân, nhỏ lẻ. Biểu hiện rõ nét nhất của việc kết bạn theo đồng hương là tham gia vào hội đồng hương. Hội đồng hương luôn mang lại sự giải trí và vui vẻ: “tham gia thích lắmtoàn người trong xã mình, mọi người biết nhau nhiều nên về quê thấy vui, lại thấy rất thân thiết và gần gũi nữa…vui lắm” (PV 2.2.4, nữ, 22 tuổi).

Vai trò của tính đồng dạng trong lựa chọn bạn đồng hương cũng có sự khác biệt giữa sinh viên đến từ các miền quê khác nhau. Khảo sát của tôi cho thấy hội đồng hương sinh viên Nghệ An có truyền thống hơn, thường tập trung hơn vào việc giúp đỡ, tương trợ: “Chúng mình muốn đoàn kết giúp đỡ nhau khi xa nhà(PV 2.4, nữ, 23 tuổi). Trong khi đó Hội đồng hương Hải Dương dường như thiên về mục đích giao lưu làm quen là chính: “Mục đích là giao lưu làm quen với nhiều người trong trường thôi… mình làm quen do sở thích . (PV 1.2.1, nam, 22 tuổi).

Đồng dạng theo nhóm.

Ở nghiên cứu này, tôi lựa chọn một nhóm bạn sinh viên có thời gian tồn tại lâu dài để khảo sát và để tiện phân tích, từ đây gọi tắt là nhóm T. Qua khảo sát cho thấy lí do kết bạn theo nhóm thường là không phải là một lí do mang tính cá nhân mà là xuất phát từ một nền tảng chung của một số thành viên của nhóm, ví dụ ở nhóm T là tình nguyện mùa hè xanh. “Bọn mình đi tình nguyện cùng nhau nên thường tâm sự với nhau, về lớp lại hay ngồi cùng nhau, cùng làm bài tập nhóm nên thân nhau.” (PV9, Nữ, 23 tuổi). “Đi tình nguyện có mấy đứa k50, đi cùng nhau, chia ngọt sẻ bùi với nhau. Quá trình tình nguyện thành ra thân thiết” (PV 4, Nữ, 23 tuổi)

Trong quá trình phân tích, tôi thấy rằng ở nhóm T thể hiện hai mặt khác nhau của sự đồng dạng: đồng dạng hóa cả nhómđồng dạng hóa theo cặp.

Đồng dạng hóa cả nhóm
. Đồng dạng Quá trình nhóm thành lập, cùng tham gia các hoạt động chung như cùng học tập, cùng chơi, cùng giải quyết các khó khăn, chia sẻ vui buồn.v.v đã tạo nên sự đồng dạng hóa cả nhóm. Nhóm T trở thành một khối, có bản sắc riêng: “Vì khi chơi cùng nhau, tất cả mọi người phải hòa đồng mới có thể duy trì được nhóm…dần dần mọi người sẽ mang những đặc điểm giống nhau.” (PV 9, Nữ, 23 tuổi).

Đồng dạng hóa theo cặp
. Đồng dạng theo cặp là những cặp quan hệ lựa chọn kết bạn dựa vào sự tương đồng với nhau. Đồng dạng theo cặp có thể diễn ra đơn thuần là cặp đôi: “Trong nhóm tớ thân nhất với D. Vì tính cách hai đứa gần giống nhau. Về suy nghĩ, về quan điểm…Theo tớ thì trong nhóm chơi thân với nhau nhưng bao giờ cũng có những cặp chơi thân với nhau hơn những người khác.” (PV 2, Nữ, 23 tuổi). Bên cạnh đó, đồng dạng theo cặp có thể diễn ra theo kiểu một cá nhân chứa nhiều mối quan hệ đồng dạng, ví như “Đối với H và H.H mình đều thân, nhưng đối xử theo hai kiểu khác nhau. Có những chuyện chỉ nói với H.H không nói với H, còn có những chuyện chỉ nói với H, không nói với H.H. Mình đều thân cả hai đứa nhưng hai đứa lại không hay nói chuyện với nhau.” (PV4, Nữ, 23 tuổi). Đồng dạng theo cặp cũng diễn ra các quan hệ phi cân xứng. Ở trường hợp này, T thì cho rằng mình phù hợp với H.H và H. Nhưng H.H lại cho rằng người mình phù hợp là Y, H và K. Như vậy, quan hệ giữa T với H.H chỉ có chiều đi mà không có chiều ngược lại.

Chính sự tồn tại của đồng dạng theo cặp mà về mặt lí thuyết, nhóm T có thể có số quan hệ có thể có (pairs) rất cao. Ví dụ với 10 thành viên, họ có thể có 10* (10-1)= 90 cặp quan hệ. Tuy nhiên, do sự lựa chọn bạn theo kiểu chọn lọc đồng dạng chuyên biệt nên số quan hệ thực tế có (ties)[2] trở nên ít đi rõ rệt, như trường hợp nhóm T chỉ có 10 mối quan hệ thực sự diễn ra. Điều này làm cho mật độ của nhóm chỉ là 0,11 %. Tức là rất thấp.

Tóm lại, trong một nhóm bạn sinh viên, cấu tạo chung của nhóm làm cho các thành viên mang các đặc điểm tương đồng với nhau; nhưng đồng thời, các thành viên luôn tìm kiếm, lựa chọn đồng dạng chuyên biệt phù hợp nhất với đặc điểm riêng của cá nhân mình, tạo thành các cặp quan hệ thân thiết với nhau hơn là với các thành viên khác của nhóm.

THẢO LUẬN

Như vậy, nghiên cứu này đã phát hiện ra đặc trưng đồng dạng tồn tại trong phương thức chọn và kết bạn của sinh viên đó là đồng hương, đồng dạng theo nhóm. Hai đặc trưng này cũng được đề cập đến từ các nghiên cứu khác. Cũng nghiên cứu về đồng hương, nhưng Đặng Nguyên Anh (1998) tiếp cận về sự di cư của lao động đi làm ăn xa: “sự gắn kết xã hội trên cơ sở đồng hương vốn đã hình thành từ lâu trong xã hội Việt Nam. Người di cư hiện nay từ nông thôn ra thành phố có xu hướng quần tụ ở những nơi có nhiều người cùng quê hương bản quán đến làm ăn sinh sống.”[3] Nghiên cứu của tôi cũng phát hiện ra rằng các sinh viên đồng hương thường kết bạn với nhau và xu hướng quần tụ trọ cùng nhau. Tuy vậy, do họ chỉ di cư mang tính chất tạm thời, đồng thời họ đang ở giai đoạn được chăm sóc và học tập vì vậy họ thỏai mái hơn trong việc chọn tiêu chí kết bạn. Mặt khác, cuộc khảo sát của tôi cũng chỉ ra rằng các nhóm đồng hương từ các miền quê khác nhau thường có những mô hình quan hệ khác nhau, tạo ra nguồn vốn xã hội khác nhau.

Đồng dạng theo nhóm cũng là một kiểu đồng dạng gán cho (induced homophily) được nhắc đến bởi McPherson và cộng sự (1987). Ở đây, “Các nhóm giải thích cho sự tương tự trong các cặp bạn bè; cấu tạo của nhóm khiến cho tất cả các cặp sẽ tương đồng nhau.[4] Denise Kandel và cộng sự (1992) cũng đã xác định sự tồn tại giữa quá trình lựa chọn cặp tương xứng với quá trình xã hội hóa nhóm. Các tác giả cho rằng hai quá trình này không loại trừ nhau (mutual exclusive) và cả hai có thể thay chỗ cho nhau.[5] Điểm mới mà tôi muốn nhấn mạnh tới là sự tồn tại thường xuyên hơn của các quan hệ cặp trong nhóm làm cho mật độ của nhóm trở nên thấp hơn theo lý thuyết. Hơn nữa, sự tồn tại của các cặp diễn ra khá phức tạp, có thể là đơn thuần là cặp đôi, thể là mối quan hệ ba thành viên theo kiểu bắc cầu, có thể là quan hệ theo kiểu phi cân xứng. Điều đó cho thấy sự phức tạp trong đặc trưng đồng dạng của kết bạn trong sinh viên.

KẾT LUẬN

1. Tóm lại, kết quả mà nghiên cứu này đạt được là cho thấy nhóm sinh viên được nghiên cứu thường chọn và kết bạn dựa theo các đặc trưng đồng dạng. Đó là đồng hương, đồng dạng theo nhóm.

2. Thông qua kết quả khảo sát định tính về các cá nhân sinh viên, tôi có thể đưa ra các giả thuyết: 1) Các sinh viên khi mới lên học Đại học ở Hà Nội thường kết bạn theo tiêu chí đồng hương, nhưng về năm cuối thì họ chọn bạn theo các nhóm theo sở thích; 2) Chọn bạn đồng hương thường có xu hướng dẫn tới các quan hệ co cụm (bonding); 3) Có sự khác biệt giữa mô hình quan hệ trong nhóm đồng hương từ miền quê khác nhau, dẫn tới vốn xã hội khác nhau; 4) Đồng dạng theo nhóm làm nảy nở nhiều đồng dạng cặp giữa các thành viên, nhóm càng lớn thì đồng dạng cặp càng nhiều; 5) Các đồng dạng cặp làm cho nội dung quan hệ của nhóm trở nên phong phú, đóng vai trò duy trì và phát triển nhóm thông qua việc tạo ra các quan hệ bắc cầu (bridging) với các thành viên bên ngoài nhóm. Những giả thuyết trên cần được kiểm chứng ở các nghiên cứu tiếp theo.



[1] Trong bài viết này: PV 2…,PV 1… là các kí hiệu lần lượt của Bảng phỏng vấn mạng lưới đồng hương sinh viên Nghệ An và mạng lưới đồng hương sinh viên Hải Dương. Nguồn dữ liệu từ Nguyễn Trung Kiên và cs, (2009).

[2] Xem thêm Nguyễn Trung Kiên, Hoàng Ngọc Ánh, Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Thùy Linh (2009). Mạng lưới đồng hương cá nhân sinh viên Nghệ An và Hải Dương: các đặc trưng cấu trúc và vốn xã hội, Báo cáo khoa học cấp khoa, Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội: tr46.

[3] Đặng Nguyên Anh (1998). “Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư”, Tạp chí Xã hội học, Số 2 (62): tr 17-18

[4] J.Miller McPherson and Lynn Smith-Lovin, (1987). Cited: pp. 371

[5] Denise Kandel, Marrk Davies, Nazli Baydar, (1992). The creation of interpersonal contexts: Homophily in dyadic relationships in adolescence and young aldulthood, in Lee Robins and Michael Rutter, (1992), “Straight and Devious Pathways from childhood to aldulthood”, CUP Archive, pp.222


Nguyễn Trung Kiên
K50. Xã hội học
Bài viết đã đăng trên Bản tin Xã hội học số 2/2009

 Gửi ý kiến thảo luận  
Tiêu đề*

Nội dung*

Người gửi*
Email*
Thông tin thêm
Nhập mã bảo vệ*  

Chú ý: Quý vị xin vui lòng gõ tiếng Việt Unicode có dấu. Mọi thông tin phản hồi của quý vị sẽ được chúng tôi xem xét,phân tích trước khi được đưa vào bài viết. Các thông tin không phù hợp mới mục đích của chủ đề thảo luận hoặc vi phạm thuần phong mỹ tục và pháp luật của nước CNHXCN Việt Nam sẽ bị xoá bỏ ngay mà không cần phải thông báo tới quý vị!


Trở về
In bài này
Các tin khác:
 Phạm Văn Hanh: Hành vi tiêu dùng thực phẩm có thay đổi (21/02/2010)
 Phạm Văn Hanh: Nhập khẩu thịt “bẩn”: cơ hội cho thịt trong nước (28/01/2010)