Xahoihoc.info - Lý thuyết Nhóm im lặng (Muted Group Theory, viết tắt là MG) có nguồn gốc từ lĩnh vực nhân học văn hóa (cultural anthropology). Nó đề cập đầu tiên[1] từ quan điểm của nhà nhân học văn hóa Edwin Ardener (1968) với tác phẩm “Niềm tin và Vấn đề của phụ nữ”. Ông cho rằng khi nghiên cứu, các nhà nhân học thường hướng tới mô tả văn hóa dưới dạng các đăc trưng nam giới (Ardener, 1978).[2] Ngôn ngữ thực tế của xã hội vốn cố hữu là mang thiên kiến nam giới, do đó tiếng nói của phụ nữ bị triệt tiêu hoặc im lặng. Từ đó Ardener cho rằng phụ nữ bị bất lực (inbility) khi diễn đạt rõ ràng về bản thân mình trước cách nói của nam giới.[3] Shirley Ardener, với tác phẩm “Nhận thức về phụ nữ” (1975) đã bổ sung vào quan điểm của chồng mình khi gọi phụ nữ là...
LÝ THUYẾT NHÓM IM LẶNG TRONG NGHIÊN CỨU GIỚI VÀ TRUYỀN THÔNGNguyễn Trung Kiên – Cao Viết Nhân – Hoàng Ngọc Ánh
(Đăng trên Bản tin Nghiên cứu Xã hội học, Viện Xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, số 01, 2010: tr6-11).
1. Dẫn nhập
Lý thuyết Nhóm im lặng (Muted Group Theory, viết tắt là MG) có nguồn gốc từ lĩnh vực nhân học văn hóa (cultural anthropology). Nó đề cập đầu tiên[1] từ quan điểm của nhà nhân học văn hóa Edwin Ardener (1968) với tác phẩm “Niềm tin và Vấn đề của phụ nữ”. Ông cho rằng khi nghiên cứu, các nhà nhân học thường hướng tới mô tả văn hóa dưới dạng các đăc trưng nam giới (Ardener, 1978).[2] Ngôn ngữ thực tế của xã hội vốn cố hữu là mang thiên kiến nam giới, do đó tiếng nói của phụ nữ bị triệt tiêu hoặc im lặng. Từ đó Ardener cho rằng phụ nữ bị bất lực (inbility) khi diễn đạt rõ ràng về bản thân mình trước cách nói của nam giới.[3] Shirley Ardener, với tác phẩm “Nhận thức về phụ nữ” (1975) đã bổ sung vào quan điểm của chồng mình khi gọi phụ nữ là “giai cấp im lặng” (muted class) (Boles and Hoeveler, 1996).[4] Bà cho rằng phụ nữ cảm thấy ít dễ chịu và diễn cảm kém hơn trong các tình huống công cộng so với nam giới và so với khi ở một mình.[5] Vì vậy, Ardener cho rằng, phụ nữ và đàn ông ở trong một xã hội gia trưởng (patriarchal society)[6], tức do nam giới thống trị.
Từ các nghiên cứu nhân học trên, Cheris Kramarae[7], đã phát triển MG trong hoạt động truyền thông. Tác phẩm nổi tiếng của bà là “Cách nói của nam giới và nữ giới: Khung phân tích” (1981). Bà cho rằng trong hoạt động truyền thông thì cách nói của nữ giới bị rơi vào tình trạng im lặng trước nam giới.
2. Những luận điểm cơ bản
Charis Kramarae (1981) đã đưa ra những luận điểm cơ bản cho việc xây dựng lý thuyết MG như sau: Thứ nhất, Kramarae cho rằng phụ nữ và nam giới có những kinh nghiệm khác nhau, nó xuất phát từ việc phân chia lao động trong xã hội. Sự khác nhau đó, tạo nên hai nhóm/giới khác biệt (different circles).
Thứ hai, do nam giới có vị trí quyền lực và thống trị lâu dài trong xã hội, nên nhận thức của họ là nhận thức của nhóm thống trị. Trong khi đó, nữ giới bị cho là nhóm thứ yếu, bên lề (marginalized group), do đó nhận thức của họ là nhận thức bị thống trị.
Như vậy, sự thống trị về mặt xã hội một cách lâu dài đã làm cho nam giới có quyền kiểm soát xã hội, kể cả việc sáng tạo ra các giá trị văn hóa, ngôn ngữ và ý nghĩa của chúng. Những cái do đàn ông sáng tạo này (man-made) quay ngược lại giúp họ luôn nhận thức mình là nhóm thống trị, còn nữ giới thì luôn đặt mình vào vị thế không thống trị.
Thứ ba, để trở thành thành viên tham gia trong xã hội, phụ nữ phải chuyển biến nhận thức của họ dưới dạng ngôn ngữ của nhóm thống trị. “Cô thực hiện truyền thông như thế nào?” là vấn đề cần giải quyết để phụ nữ có thể bước vào xã hội gia trưởng.
Về điểm này, Charlotte Kroløkke, Ann Scott Sørensen (2005) cho rằng, phụ nữ chỉ có hai lựa chọn trong quá trình truyền thông. Một, họ có thể cố gắng chuyển quan điểm của mình vào hình thức mang được trưng nam giới. Hai là cố gắng tháo bỏ quan điểm xen kẽ (tức mang tính cân bằng) trong truyền thông. Các tác giả này cũng nhấn mạnh rằng, cả hai lựa chọn này đều khó thực hiện. Quá trình chuyển biến các quan điểm cũng như cách thức diễn đạt của nữ giới vào hình thức nam giới có thể gặp phải khó khăn như sự không thỏa mãn của nữ giới (Spivak, 1987). Trong khi đó, mô hình truyền thông xen kẽ cũng gặp phải nhiều rào cản, ví dụ như nam giới chẳng hạn. Nam giới, có chủ ý hay không cũng sẽ duy trì quyền lực của họ bằng cách đề phòng và ngăn ngừa các tiếng nói khác (Spender, 1980). Và nếu không thể thực hiện theo một lựa chọn nào thì tất nhiên, phụ nữ sẽ rơi vào im lặng.[8] Nói tóm lại, theo quan điểm của Kramarae, im lặng vừa là cách thức để phụ nữ bước vào xã hội gia trưởng, vừa là “cái giá” phải trả của việc muốn hòa nhập vào xã hội ấy.
3.
So sánh lý thuyết MG và các lý thuyết khác3.1 Lý thuyết MG và lý thuyết lập trường giới, phong cách giới
Các lý thuyết MG và lý thuyết lập trường giới (standpoint theory), phong cách giới (gender styles) đều thống nhất một điểm: phụ nữ và đàn ông trong xã hội có những kinh nghiệm khác nhau, kinh nghiệm khác nhau đó khiến họ có cách nhìn nhận xã hội khác nhau, do đó, có cách truyền thông khác nhau.
Tuy nhiên, các lý thuyết này có những điểm nhấn và thiên hướng nghiên cứu khác nhau như sau:
Bảng: Phân biệt lý thuyết lập trường giới, phong cách giới với lý thuyết MG| Lý thuyết | Ý tưởng chính |
| Lập trường giới | Nam giới và nữ giới có những kinh nghiệm khác nhau, điều đó tạo ra cách thức họ nhìn nhận xã hội. Bởi vì những khác nhau đó, nam giới và nữ giới truyền thông khác nhau |
| Phong cáchgiới | Phụ nữ truyền thông để thiết lập liên kết với người khác, trong khi nam giới sử dụng truyền thông để thiết lập hay duy trì quyền lực lên những người khác. |
| MG | Bởi vì trong xã hội, nam giới có nhiều quyền lực hơn nên trong đời sống ngôn ngữ và ý nghĩa của nó bị định kiến theo viễn tượng nam giới. Nữ giới phải thích ứng và sử dụng ngôn ngữ của nam giới hay không được quan tâm. |
Nguồn: Dainton, Marianne and Elaine D. Zelley (2005): pg. 95
Lý thuyết lập trường giới nhấn mạnh vào nguồn gốc tạo nên sự khác biệt, hay câu hỏi nghiên cứu của họ là tại sao lại có sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về mặt kinh nghiệm và vì vậy có phải nó tạo khác biệt trong truyền thông? Trong khi đó, lý thuyết phong cách giới lại nhấn mạnh đến cách thức thể hiện sự khác biệt đó, hay là câu hỏi nghiên cứu phụ nữ và nam giới biểu hiện sự khác biệt như thế nào trong truyền thông?[9] Lý thuyết MG lại nhấn mạnh đến đặc tính “im lặng” trong cách diễn đạt của phụ nữ trong xã hội trước nhóm thống trị là nam giới.
Lý thuyết MG cũng đề cập đến nguồn gốc và cách thức biểu hiện của sự khác biệt kinh nghiệm, song: Về nguồn gốc của sự khác biệt, các nhà lý thuyết MG hầu như chỉ nhấn mạnh đến quyền lực chính trị thống trị xã hội lâu dài của nam giới thì các nhà lập trường giới nhấn mạnh và xét đến một cách rộng hơn tính mất cân bằng (imbalance) phổ biến trong các thể chế xã hội, kinh tế và quyền lực tượng trưng (Wood, 1993) đem lại quá trình xã hội hóa khác nhau (Maccoby, 1990). Do đó tạo nên nam giới và nữ giới với những bộ quy tắc, chuẩn mực, mục đích và ý nghĩa khác nhau cho kinh nghiệm của họ.[10].
Về cách thức truyền thông, các nhà lý thuyết MG chủ yếu bàn về cách thức biểu hiện mang tính im lặng của nữ giới, nhấn mạnh đến cách thức nữ giới chống trả lại và tìm cách hòa nhập với quyền lực thống trị của nam giới. Ở lý thuyết phong cách giới, Tannen (1996) cho rằng nam giới và nữ giới có 2 khuôn mẫu trò chuyện khác nhau. Trong khi nam giới sử dụng truyền thông như một công cụ, một vũ khí và nhằm mục đích duy trì vị thế và quyền lực của bản thân mình (truyền thông công cụ - instrumental communication), thì nữ giới lại chủ yếu sử dụng truyền thông một cách diễn cảm để nhằm kết nối với mọi người (expressive communication). Có một điều khác biệt quan trọng hơn là Tannen cho rằng cả hai cách truyền thông của hai giới đều hợp lý, bà không dành đặc quyền cho một cách thức truyền thông nào và cũng không tập trung tranh luận của mình vào những vấn đề thuộc thống trị và quyền lực. Thông qua đó, Tannen cũng như các nhà bản sắc giới cũng phê phán lý thuyết MG khi chỉ tập trung vào đấu tranh giành quyền lợi cho phụ nữ trong truyền thông.[11]
3.2 Lý thuyết MG và lý thuyết Vòng xoắn im lặng
Điểm giống nhau của 2 lí thuyết
Lí thuyết MG và lí thuyết Vòng xoắn im lặng (Spiral of Silence, từ đây gọi là S.S) ở một khía cạnh nào đó đều phản ánh về một dạng thức áp lực tâm lí, ảnh hưởng về quan điểm, ý kiến của nhóm này đến nhóm khác dựa trên sự khác biệt về quyền lực. Cả hai đều xác định cơ sở lý luận cơ bản là thông qua tương tác xã hội; tình huống mà thường phân chia thành các thế lực khác nhau: trong đó một bên công khai tuyên bố những quan điểm, lấn át nhóm còn lại và đẩy họ vào sự im lặng, hay một nhóm ưu thế, kiểm soát việc sử dụng ngôn ngữ, quan điểm còn nhóm kia phải chuyển đổi cách nhận thức, qua điểm sao cho phù hợp với nhóm ưu thế kia.
Sự khác nhau giữa 2 lí thuyết
Có thể thấy sự khác biệt rõ nhất giữa 2 lí thuyết này xuất phát từ 2 cách tiếp cận khác nhau. Lí thuyết MG tiếp cận với các phương pháp, quan điểm về nhân học là chủ yếu, vì thế các phân tích lí giải của các tác giả tập trung vào các đặc điểm con người: giới tính, tuổi tác; đặc tính về đời sống xã hội của con người: học vấn, văn hóa, ngôn ngữ, các giá trị xã hội mà cá nhân chấp nhận và tuân theo…Về mặt xuất phát điểm lí thuyết, những người sáng lập lí thuyết về MG chủ yếu nghiên cứu về các đặc trưng giới, xem xét sự khác biệt trong quá trình giao tiếp của hai giới, trong việc sử dụng ngôn ngữ, sự khác biệt về ngôn ngữ giữa nhóm “thống trị” (dominant group) và nhóm phụ thuộc (subordinate group).
Trong khi đó, các tác giả của lí thuyết S.S chủ yếu nghiên cứu phân tích các đặc tính tâm lí của những người thuộc thiểu số ý kiến và nguyên nhân dẫn đến sự “im lặng” của họ. Noelle Neumann, cũng như Tocqueville trước đó đã bàn đến, cho rằng chính xuất phát từ áp lực của số đông và nỗi sợ bị cô lập đã khiến cho các cá nhân không dám đưa ra những ý kiến của mình trái với đa số. Ở đây bất kể cá nhân đó thuộc giới nào, có các đặc tính cá nhân như thế nào, miễn là họ thuộc một nhóm, một tổ chức xã hội nào đó và gắn bó chặt chẽ vào đó thì đều có khả năng rơi vào hiện tượng “S.S”. Đó giống như một phương cách hữu hiệu để tự bảo vệ của các thành viên, giúp họ tránh được sự xung đột, đối đầu với số đông. Lí thuyết S.S gắn với các đặc điểm của nhóm hơn là gắn với các đặc trưng của cá nhân. Số lượng thành viên trong nhóm càng lớn, cơ cấu nhóm càng chặt chẽ, mức độ kiểm soát của nhóm đối với thành viên càng cao thì “S.S” càng có nhiều khả năng xuất hiện.
Lý thuyết MG cho rằng các loại ngôn ngữ được sử dụng trong thế giới hiện nay là sản phẩm do đàn ông tạo ra (man – made) là chủ yếu (Kramarae,1981) và nó đã góp phần hạn chế, loại trừ phụ nữ. Ví dụ như khi nói về người quan hệ tình dục với nhiều người, Kramarae đã liệt kê liệt kê có khoảng 22 từ để mô tả người đàn ông có thói trăng hoa: womanizers, studs, hay players, playboy, gigole, Don Juan… trong khi lại có hơn 200 từ để mô tả những người phụ nữ dạng này như: tramps, sluts hay whores... Nếu các từ này hàm ý đó là những đàn ông giỏi giang trong quan hệ tình dục và không mang nghĩa phê phán đạo đức; thì lại phê phán tiêu cực hàm ý quy gán giá trị đạo đức xấu và mang tính xúc phạm khủng khiếp hơn cho phụ nữ. Tramps là người đàn bà đĩ thỏa, không có đạo đức về tình dục, stut là người đàn bà nhếch nhác, dâm đãng, bẩn thỉu, whores là đĩ, gái điếm. Chỉ qua việc sử dụng ngôn ngữ này thì đã có một sự phân biệt và không cân bằng đối với đàn ông và phụ nữ.[12]
Tại Pháp, nhìn một cách tổng thể, ngữ pháp của tiếng Pháp đã thể hiện rõ sự chiếm ưu thế của giống đực so với giống cái. Ở thế kỷ 19, các danh từ giống đực luôn bao bao hàm một giá trị đặc biệt và ngược lại, người ta tìm cách thành lập các danh từ giống cái giả định từ những cái không có giá trị, hoặc không đáng kể. Kể từ đó, trong các cấu trúc ngữ pháp và các quyển từ điển của Pháp, giống đực xuất hiện như một chỉ báo duy nhất cho ngôn ngữ và giống cái thì như là một công cụ làm nền, phụ họa. Và thực tế những từ giống cái luôn được xây dựng từ thể thức ban đầu của giống đực.[13]
Nói tóm lại, các đồ vật thì luôn cùng một nghĩa nhưng ngôn ngữ mà chúng ta đang nói thì không trung lập. Nó mang theo cả sự kỳ vọng, những giá trị, chuẩn mực thậm chí là những khuôn mẫu, định kiến xã hội mà cả một cộng đồng xã hội duy trì, do đó mang theo cả sự bất bình đẳng nam nữ. Chính sự thiên vị dành cho nam giới mà nữ giới trong ngôn ngữ cũng là một biểu hiện của MG.
Trong thực tế luôn tồn tại các mối quan hệ quyền lực trong quá trình giao tiếp.
Ai nói nhiều hơn
Trong xã hội, người ta cho rằng phụ nữ chính là những người lắm mồm, hay buôn chuyện hơn so với đàn ông. Tuy nhiên, những quan điểm này chưa bao giờ được khẳng định trong bất cứ một nghiên cứu chính thức nào. Ngược lại, phần lớn những nghiên cứu đã chứng minh rằng thực tế, chính những người đàn ông lại nói nhiều hơn. Kể từ năm 1952, Strodtbeck đã chứng minh rằng trong những cặp vợ chồng khác giới cưới nhau, những người đàn ông thường nói nhiều hơn người phụ nữ. Thực tế ở những lĩnh vực quan trọng, phụ nữ vẫn có ít tiếng nói hơn. Hiện tượng này bắt nguồn từ địa vị tương đối thấp của phụ nữ trong xã hội và niềm tin phổ biến rằng phụ nữ thì thiếu quyết đoán hơn, có trình độ nhận thức thấp nên dễ nói “sai”. Do vậy hệ quả là, tất cả những cử chỉ, thái độ và ngôn ngữ trong giao tiếp của người phụ nữ thường bị phán xét một cách thái quá. Một người phụ nữ nói nhiều bằng người nam sẽ bị nhận phải những đóng góp, trì trích (Henley, 1975).
MG trong lĩnh vực công nghệ.
Sự thống trị của nam giới trong khoa học công nghệ được hình thành thông qua một quá trình xã hội hóa từ thời thơ ấu cho đến khi lên đại học và môi trường công sở. Ngay từ khi còn nhỏ, nhờ làm quen sớm và nhiều hơn với các trò chơi kỹ thuật như ô tô, máy bay…và khám phá ra cách thức vận hành của chúng, nên các cậu con trai thường có tư duy khoa học và logic về thế giới. Ngược lại, các trẻ em gái lại được làm quen với các trò chơi như búp bê, gấu bông… nhằm khuyến khích sự nhạy cảm, nữ tính và dịu dàng. Chính sự tích lũy này, đàn ông trở thành người kiểm soát đối với công nghệ kỹ thuật. Điều này đã tạo ra trạng thái im lặng đối lập từ phía nữ giới. Khi người phụ nữ nói về những công cụ kỹ thuật hay máy móc, họ thường sử dụng những quan điểm hay vốn từ vựng thuộc ngôn ngữ của nam giới.[14] Điều đó càng làm cho sự im lặng của nữ giới diễn ra phổ biến hơn trong xã hội.
5. Thảo luận và kết luận
MG không chỉ nằm gói gọn trong quan hệ giữa hai giới nam giới – nữ giới. “Mặc dù lý thuyết MG tập trung nhấn mạnh về phụ nữ, nhưng có những nhóm khác trong xã hội bao gồm trẻ em và các tội phạm, họ cũng được gọi là im lặng…Lý thuyết về im lặng không chỉ là ở việc phát ngôn, mà là ở tất cả các lĩnh vực của truyền thông (Ardener, 1978)”[15] Như vậy, MG không chỉ là phụ nữ, mà “lý thuyết MG cũng liên hệ với các nhóm bên lề khác (marginalized group) và có thể áp dụng cho nhiều tầng và sự giao thoa im lặng đối với các giai cấp (class), chủng tộc/sắc tộc (race/ethnicity)”[16] hay các nhóm giàu – nghèo… Một trong những người mở rộng MG ra các nhóm văn hóa là Mark Orbe (1995, 1998).[17]
Vì vậy, khi bàn đến nhóm im lặng trong truyền thông, chúng ta cùng chú ý tới các câu hỏi và hướng nghiên cứu sau: 1) Nhóm nào xuất hiện như là nhóm im lặng? Và tương ứng với nó, nhóm nào giữ vai trò thống trị/ưu thế? 2) Hình thức “im lặng” mà nhóm đó thực hiện đối với nhóm thống trị là gì? 3) Hậu quả của nhóm im lặng đó tới hoạt động truyền thông? 4) Giải pháp để hóa giải nhóm im lặng trong truyền thông?
Các nhóm im lặng ở Việt Nam có thể là trẻ em, người nghèo, các dân tộc thiểu số, người mù chữ và học vấn thấp, phụ nữ…nhưng cũng không loại trừ nam giới, người già…khi họ rơi vào trường hợp học vấn thấp, nghèo...Trong hoạt động truyền thông đặc biệt trong các dự án phát triển cộng đồng, đặc điểm nhóm im lặng hoàn toàn có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực: dựng nên một rào cản mang tính cấu trúc xã hội đem đến thách thức cho hoạt động truyền thông (đó là thể chế ưu tiên cho nhóm thống trị, đó là nhận thức nhóm thống trị là thống trị, còn nhóm yếu thế nhận thức bị thống trị…); làm cho hoạt động truyền thông cộng đồng bị bó hẹp trong nhóm thống trị (vì các nhóm yếu thế không dám nêu lên quan điểm chứa đựng lợi ích của mình).
Việc chú ý xác định nhóm nào là thống trị và im lặng, và xác định đặc điểm của họ là điều quan trọng đầu tiên để giải quyết vấn đề này. Có thể vận dụng các phương pháp truyền thông như: truyền thống thay đổi hành vi có sử dụng các nhóm thống trị tham gia tuyên truyền cho các quan điểm bình đẳng giới; truyền thông có sự tham gia với việc tạo điều kiện để cả cộng đồng tham gia xác định, hoạch định kế hoạch và giải quyết vấn đề của chính mình (họp cộng đồng với 2 nhóm nam giới, nữ giới); truyền thông với nhân vật có uy tín nhằm thuyết phục các nhóm thống trị và im lặng gần gũi quan điểm với nhau…Việc xác định các giải pháp hóa giải nhóm im lặng trong truyền thông cần được tiếp tục quan tâm trong các nghiên cứu tiếp theo.
Clary, Jessica and Katie Smith, 1999. Survey of Communication Theory: Muted Group Theory, trên http://com.hilbert.edu/students/papers/carolina-1999/1999muted.html cập nhật ngày 6/1/2008
Dainton, Marianne and Elaine D. Zelley, 2005. Applying Communication Theory for Professional Life: A Practical Introduction, SAGE publication.
Gasprom, 2005. La langue française se prête-t-elle difficilement à la féminisation ?, trên http://www.genreenaction.net/spip.php?article3542 cập nhật ngày 4-6/1/2008
Jouët, Josiane, 2008. Technologies de communication et genre: Des relations en construction, trên website : http://www.cairn.info/resume_p.php?ID_ARTICLE=RES_120_0053 , cập nhật từ 3-6/1/2008
Kroløkke, Charlotte and Ann Scott Sørensen, 2005. Gender Communication Theories & Analyses: From Silence to Performance, SAGE publication.
Littlejohn, Stephen W., 2002. Theories of Human Communication, Published by 清华大学出版社
Monnet, Corinne, 2007. La répartition des tâches entre les femmes et les hommes dans le travail de la conversation, trên website http://lmsi.net/spip.php?article703 cập nhật ngày 3-6/1/2008
Orbe, Mark P., 1995. ‘African American communication research: Toward a deeper understanding of interethnic communication’, Western Journal of Communication, 59, 61-78
Senner, Laura, 1999. Muted Group Theory, University of Colorado at Boulder.
Wall, Celia J. and Pat Gannon-Leary, 1999. ‘A Sentence Made by Men: Muted Group Theory Revisited’, The European Journal of Women's Studies, Vol.6, pg. 21-29
[1] Kramarae (1981) cho rằng sự
im lặng của nữ giới đã được đề cập từ năm 1902 bởi Carrie Chapman Catt với quan điểm:
"Xã hội đã không dạy cho phụ nữ sự khéo léo, và cho rằng công việc của cô ta là không có giá trị. Điều đó không cho phép người phụ nữ được có những ý kiến và cho rằng nữ giới không biết suy nghĩ. Điều đó ngăn cấm nữ giới nói trong cộng đồng và xem giới tính của phụ nữ không thể hùng biện được"(
Kramarae, 1981) - Xem Clary, Jessica and Katie Smith:
Survey of Communication Theory: Muted Group Theory, 1999, trên
http://com.hilbert.edu/students/papers/carolina-1999/1999muted.html cập nhật ngày 6/1/2008.
[2] Littlejohn, Stephen W. (2002).
Theories of Human Communication, Published by 清华大学出版社, 2002: pg.224
[3] Littlejohn, Stephen W. (2002). Sđd, pg. 224
[4] Xem Clary, Jessica and Katie Smith, (1999). Sđd.
[5] Littlejohn, Stephen W. (2002). Sđd, pg.
224
[6] Kroløkke, Charlotte and Ann Scott Sørensenl, (2005).
Gender Communication Theories & Analyses: From Silence to Performance, Published by SAGE, pg. 30
[7] Học giả ở Khoa truyền thông nhanh ở Đại học
Illinois ở Urbana-Champaign
[8] Charlotte Kroløkke, Ann Scott Sørensen (2005): p.g 30
[9] Xem thêm Dainton, Marianne and Elaine D. Zelley (2005).
Applying Communication Theory for Professional Life: A Practical Introduction, Published by SAGE, 2005: pg.96
[10] Dainton, Marianne and Elaine D. Zelley (2005), Sđd, pg.95
[11] Dainton, Marianne and Elaine D. Zelley (2005), Sđd, pg.95
[12] Dainton, Marianne and Elaine D. Zelley, (2005),
Sđd
, pg.97-98
[13] Gasprom, 2005.
“La langue française se prête-t-elle difficilement à la féminisation ?” trên
http://www.genreenaction.net/spip.php?article3542 cập nhật ngày 4-6/1/2008
[14] Josiane Jouët : « Technologies de communication et genre: Des relations en construction » trên website : http://www.cairn.info/resume_p.php?ID_ARTICLE=RES_120_0053 , cập nhật từ 3-6/1/2008
[15] Jessica Clary and Katie Smith, 1999.
Survey of Communication Theory: Muted Group Theory, 1999, trên
http://com.hilbert.edu/students/papers/carolina-1999/1999muted.html cập nhật ngày 6/1/2008
[16] Kroløkke, Charlotte, Ann Scott Sørensen (2005): pg. 31
[17] Xem Orbe, M.P. (1995).
African American communication research: Toward a deeper understanding of interethnic communication. Western Journal of Communication, 59, 61-78, pg. 2